Chuột rút ban đêm – coi chừng suy tỉnh mạch (bài 1)

Chuột rút là triệu chứng co rút cơ, rất đau đớn. Thường xãy ra ở người trung niên và cao tuổi. Đặc biệt là nữ bị nhiều hơn nam. Sau đâu là bài viết của PGS.TS. Nguyễn Hòai Nam  trích từ trang Sức Khỏe Đời sống, giúp chúng ta nhận thức tầm quan trọng của bệnh cần điều trị sớm vì nó là dấu hiệu của suy tỉnh mạch là bệnh tim mạch.

vop be1

“Chuột rút là một triệu chứng rất thường gặp trong cuộc sống hàng ngày và có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, nó xảy ra nhiều hơn ở những người trung niên và cao tuổi.

Chuột rút là những cơn co thắt của một cơ hay một nhóm cơ, thường nhất là những cơ ở mặt sau cẳng chân. Các cơn này xảy ra đột ngột, ngoài ý muốn của con người. Các cơn co thắt có thể kéo dài trong vài giây hoặc kéo dài đến trên 10 phút.

Điều trị sớm và đúng, có đến hơn 90% số bệnh nhân không còn bị chuột rút về đêm nữa

Chuột rút có thể rất đau. Nhiều người mô tả cơn đau như bóp chặt cẳng chân và gây ra nỗi kinh hoàng lo sợ cho rất nhiều người. Ở một số người các cơn chuột rút có thể xảy ra liên tục và có khi kéo dài trong vài ngày. Đau do chuột rút có thể vẫn còn lưu lại cảm giác khó chịu đến tận ngày hôm sau.  Sau khi bị chuột rút, bệnh nhân đi lại rất khó khăn.

Tại sao chúng ta lại bị chuột rút?

Hồi còn bé, chúng tôi hay gặp chuột rút ở một số người đi bơi. Đã có người khi đang bơi bị chuột rút đau quá và chìm xuống sông chết đuối luôn. Một số người khi tập thể dục thể thao nếu khởi động không kỹ cũng dễ bị chuột rút. Còn trong bệnh viện, một số bệnh nhân bị các bệnh làm mất ion Kali như tiêu chảy nặng, suy kiệt, sử dụng thuốc lợi tiểu quá mức… cũng có thể bị chuột rút.

suy tinh machTuy nhiên, nguyên nhân gây chuột rút thường hay gặp nhất trong y khoa là tình trạng chuột rút về ban đêm do suy hệ thống tĩnh mạch của chân.

Người ta thấy rằng có đến trên 70% số bệnh nhân suy tĩnh mạch bị chuột rút về ban đêm. Trong nghiên cứu của chúng tôi, trên 500 bệnh nhân suy tĩnh mạch thì thấy rằng tỉ lệ này lên đến 90% bao gồm thỉnh thoảng mới bị chuột rút đến thường xuyên bị chuột rút. Có những bệnh nhân 5 năm nay bị chuột rút hàng đêm đến nỗi bệnh nhân không dám ngủ và đưa đến tình trạng trầm cảm nặng.

Cho đến ngày hôm nay, tuy có một số giả thuyết được đưa ra về cơ chế bệnh sinh của chuột rút, nhưng chưa có giả thuyết nào được chấp nhận một cách tuyệt đối cả. Một số nhà khoa học cho rằng chính tư thế ngồi xổm của con người hiện đại khiến các cơ bị căng và co ngắn lại tạo điều kiện cho chuột rút

Một số phụ nữ với thói quen đi giày cao gót làm cho cơ vùng bắp chân và bàn chân làm tăng nguy cơ bị chuột rút. Một số người hay bị chuột rút khi năm ngửa hoặc khi bơi lội, nguyên nhân sự co cơ quá mức sinh lý đối với những cơ đang trong tình trạng căng thẳng.

Trong suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới, sự ứ trệ dòng máu đi trong lòng các tĩnh mạch đặc biệt là trong tĩnh mạch sâu có thể làm tăng số lượng các chất chuyển hóa trong khối cơ bắp, khiến cho cơ dễ bị kích thích và gây co cơ. Mặt khác tình trạng phù chân thường gặp trong suy tĩnh mạch cũng là nguyên nhân làm tăng tính kích thích của các sợi dây thần kinh tự chủ gây co cơ.

Nên điều trị sớm

muscle cramp treament

Sau khi xác định chính xác nguyên nhân gây chuột rút về ban đêm của bệnh nhân là tình trạng suy tĩnh mạch, bệnh nhân cần phải được điều trị sớm và dứt điểm. Việc điều trị nên bắt đầu bằng thay đổi các thói quen như không ngồi xổm, không đi giày cao gót, xoa bóp chân trước khi đi ngủ, uống nước đầy đủ… Khi các phương pháp trên không hiệu quả nên sử dụng các loại thuốc làm bền thành mạch, cải thiện sự lưu thông của dòng máu trong tĩnh mạch, sử dụng các loại tất áp lực để điều trị suy tĩnh mạch.

Trong thực nghiệm lâm sàng hàng ngày, các chuyên gia về tĩnh mạch học cũng thấy rằng vitamine E và Quinin có vai trò rất quan trọng trong điều trị chuột rút về ban đêm.

Trong thực hành khám và chữa bệnh hàng ngày, chúng tôi thấy nếu điều trị đúng và điều trị sớm có đến hơn 90% số bệnh nhân không còn bị chuột rút về đêm nữa.

PGS.TS. Nguyễn Hòai Nam

Advertisements

Trị ho – không dùng thuốc

Sau khi cảm cúm, thường những cơn ho xãy ra để đào thải những chất đàm dịch bám trong hệ hô hấp.

Các cơn ho làm cho chúng ta mệt mỏi nhiều khi mất ngủ.  Ngòai ra, bệnh viêm phổi, viêm xoang, viêm mũi dị úng cũng làm cho người bệnh bị ho.

Trong chương trình chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc, Thiên Tâm xin giới thiệu các phương pháp trị ho rất giản dị, không tốn kém, mà hiệu quả:

Sau đây là các phương pháp đơn giản  giúp bạn ngăn chận các cơn ho “hành hạ ” cho sức khỏe, bất kể là ho phát xuất từ cảm lạnh, cúm, sốt, dị ứng hay ho mãn tính.

1. Phương pháp dùng cho ho mới phát sau cảm lạnh hoặc cúm do một số bác sĩ và khoa học gia ở bên Québec, Canada khám phá. Để ngăn chận ho do dạng thực chứng “buổi tối trước khi lên giường ngủ thoa dầu nóng ngay dưới gan bàn chân,  hoặc dùng miếng dán nhỏ Salonpas hay Ecosip hoặc cao ớt,  dán vào huyệt Dũng Tuyền và mang vớ thật ấm để ngủ.

2. Nếu bạn bị ho lâu ngày trở thành mãn tính thì dán cao hoặc xoa dầu nóng vào huyệt Tam Âm Giao. Bạn sẽ thấy triệu chứng ho giảm hẳn. Hãy lập lại vài ba lần như thế tối trước khi đi ngủ thì cơn ho sẽ dứt tuyệt.

Tuy phương pháp trên khá đơn giản nhưng là một cách điều trị có cơ sở khoa học. Huyệt Dũng Tuyền là Huyệt đường kinh Thận. Huyệt Tam Âm Giao là huyệt hội 3 đường kinh Âm (Can-Tỳ-Thận). Bệnh mới phát theo đông y là thực chứng, bệnh lâu ngày là hư chứng. Đông y có nguyên tắc chữa theo ngũ hành, “hư bổ mẹ, thực tả con”. Ho là bệnh thuộc tạng Phế – hành Kim, bệnh mới phát chữa tạng Thận – hành Thủy (con của Phế Kim), bệnh mãn tính chữa hành mẹ của Phế là Tỳ Thổ.

Bạn hãy thử nhé.

Thiên Tâm có một sản phẩm tuyệt vời giúp bạn tiện dụng mà không cần dán cao nóng vào huyệt.

Chỉ sử dụng một huyệt Tam Âm Giao vừa kinh Tỳ vừa kinh Thận, vừa chữa ho mới phát, vừa chữa ho mãn tính. Đó là sản phẩm Gối kê cổ tay – cổ chân thảo dược đá thạch anh.

Xem thêm các phương pháp giảm ho bằng thảo dược ở bài Thảo dược trị ho.

 

Image

Giá trị dinh dưỡng của huyệt Tam Âm Giao

Tam âm giao là một trong số những huyệt vị được sử dụng nhiều nhất trong châm cứu cổ truyền. Do phạm vi tác dụng rộng và tính tự điều chỉnh cao, đặc biệt là công năng dưỡng âm và ổn định thần kinh, Tam âm giao có thể được tác động hàng ngày như một phương pháp dưỡng sinh.

Có những bài thuốc, món ăn hoặc phương pháp tập luyện đơn giản, dễ thực hiện nhiều khi có thể giúp điều chỉnh một số rối loạn nhất định trong cơ thể. Một trong những cách ít ai biết là mỗi người có thể tự tác động vào huyệt Tam âm giao để đạt được những yêu cầu này.

MỘT SỐ CÔNG NĂNG CƠ BẢN CỦA PHÉP DƯỠNG SINH

Dưỡng âm: Âm huyết là phần vật chất quan trọng tạo thành cơ thể con người. Hơn nữa dương khí có đầy đủ hay không cũng phải nương nhờ âm huyết mà tồn tại. Theo Nội kinh: “Người đến 40 tuổi thì âm khí đã kém đến phân nửa” nên nói khí dương thường thừa mà khí âm thường thiếu. Do đó nói đến dưỡng sinh không thể không bàn đến dưỡng âm.

Điều hòa thần kinh: Khoa học đã cho biết trên 50% số tử vong của con người xuất phát từ những bệnh tật do cảm xúc gây ra. Những áp lực, lo toan thường ngày với đủ loại cảm xúc khó chịu và dai dẳng dễ làm cho hệ thần kinh chúng ta căng thẳng, quá tải và suy nhược. Do đó, một phương pháp dưỡng sinh phải có công năng điều chỉnh lại tình trạng rối loạn này, lập lại cân bằng giữa hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh do quá trình sinh hoạt và làm việc căng thẳng gây ra.

Tính giải độc và tăng cường chuyển hóa cơ bản: Một phương pháp dưỡng sinh thường đươc sử dụng lâu dài, thậm chí cả đời. Do đó phải bảo đảm độ an toàn cao, ít hoặc không có phản ứng phụ. Hơn nữa còn phải có chức năng thúc đẩy sự chuyển hóa, thanh lọc và bài tiết của cơ thể.

Sau đây, thử đối chiếu các công năng nói trên với những tác dụng căn bản của huyệt Tam âm giao theo y học cổ truyền.

ĐẠI CƯƠNG VỀ HUYỆT TAM ÂM GIAO

Huyệt Tam âm giao ở chỗ lõm sau bờ xương chày trên mắt cá chân khoảng 6,5 cm (đối với người lớn, khổ người trung bình). Có thể xác định vị trí huyệt bằng cách hình dung một tam giác cân ABC. A là đỉnh tam giác cân – là điểm giữa của mắt cá chân trong. BC là cạnh đáy của tam giác. C là góc của gót chân. B chính là huyệt Tam âm giao.

Ngay tên gọi đã cho biết Tam âm giao là huyệt giao hội của 3 đường kinh âm: Thái âm tỳ, Thiếu âm thận và Quyết âm can. Với những phương tiện hiện đại, khi châm vào huyệt Tam âm giao, các nhà khoa học Pháp đã xác định được 3 đường trắng nổi lên từ vị trí huyệt chạy dọc theo chân trùng khớp với vị trí 3 đường kinh Tỳ, Can và Thận của châm cứu cổ truyền.

Theo châm cứu cổ truyền, huyệt có công năng bổ Tỳ Thổ, thông khí trệ, sơ tiết vùng hạ tiêu, điều khí nghịch, khử phong thấp ở kinh lạc, kiện Tỳ hoá thấp, sơ Can ích Thận.

TÁC DỤNG DƯỠNG ÂM CỦA HUYỆT TAM ÂM GIAO

Vì là huyệt hội của ba đường kinh âm, đặc biệt là đường kinh Thận nên tác dụng dưỡng âm của huyệt là điều dễ hiểu. Tác dụng rõ nhất của huyệt là bổ Thận âm. Trên thực tế, khi day ấn liên tục từ 7-10 phút trên huyệt, một số người có khí cảm tốt sẽ cảm nhận được một luồng khí lan tỏa theo 2 chiều, hoặc từ lòng bàn chân và ngón chân cái chạy dọc theo 3 đường kinh đến thận, gan và lách; Hoặc ngược lại từ những cơ quan này theo đường kinh thoát ra khỏi cơ thể thông qua lòng bàn chân và các đầu ngón chân. Đây chính là quá trình xả trược khí và thu thanh khí thông qua các tỉnh huyệt ở chân. Nếu sự tác động đủ mạnh và kéo dài sẽ có sự lan tỏa khí sang các tổ chức và các kinh lạc khác của cơ thể – mà gần nhất sẽ là các phủ có liên hệ biểu lý với 3 tạng Tỳ, Can, Thận, tức dạ dày, túi mật và bàng quang…

TÁC DỤNG ĐIỀU HÒA THẦN KINH CỦA HUYỆT TAM ÂM GIAO

Theo y học cổ truyền, mỗi loại cảm xúc âm tính sẽ làm tổn thương một loại khí nhất định trong cơ thể con người. Chẳng hạn “Ưu thương Tỳ”, “Khủng thương Thận”, “Nộ thương Can”… Tuy nhiên, bất cứ một cảm xúc âm tính nào tác động lâu dài cuối cùng đều ảnh hưởng tới Can khí, dẫn đến Can khí uất, đầu mối của nhiều bệnh tật khác nhau. Tác dụng sơ tiết Can khí làm thư giải khí uất của Tam âm giao sẽ giúp hóa giải trạng thái tâm lý này. Tầm quan trọng của việc thư giải khí uất đã được ghi nhận từ lâu trong y thư cổ: “Mọi chứng bệnh đều kèm chứng uất, vậy chữa bệnh phải kèm chữa uất”. Điều này càng có ý nghĩa trong xã hội hiện nay, khi con người phải đối phó thường xuyên với nguy cơ stress do môi trường và đời sống công nghiệp gây ra.

Ngoài ra, tác dụng làm êm dịu thần kinh còn do công năng “giáng khí” hoặc “điều khí nghịch” của huyệt. Ở những người đang căng thẳng do tâm lý hoặc đang có cơn “bốc hỏa” do “âm hư hỏa vượng”, tác động vào huyệt Tam âm giao có thể thấy ngay kết quả.

TÁC DỤNG THANH LỌC VÀ TĂNG CƯỜNG CHUYỂN HÓA CƠ BẢN CỦA HUYỆT TAM ÂM GIAO

Theo quan niệm chỉnh thể của y học phương Đông, một tạng hoặc một phủ khi phát sinh bệnh biến sẽ có biểu hiện tương ứng trên đường tuần hành của kinh lạc đi qua nó. Đổi lại, ta có thể thông qua những huyệt vị trên kinh lạc để điều chỉnh những rối loạn bệnh lý của các tạng phủ bên trong. Can Thận chủ hạ tiêu, Tỳ chủ trung tiêu. Do đó, khi tác động vào huyệt Tam âm giao có thể điều tiết toàn bộ quá trình chuyển hóa, thanh lọc và bài tiết ở khu vực này.

Do 3 đường kinh có các chức năng hầu như tương phản nhau: “Thận chủ bế tàng”, “Can chủ sơ tiết”, “Tỳ chủ vận hóa” nên Tam âm giao là một trong số rất ít huyệt vị châm cứu có đặc tính tự điều chỉnh rất cao giữa âm và dương, giữa bất cập và thái quá, giữa hưng phấn và ức chế đối với các lĩnh vực bệnh lý có liên quan. Chẳng hạn cũng cùng một cách châm vào huyệt Nội quan ở cổ tay có thể làm cho nhịp tim tăng lên khi nhịp tim quá yếu hoặc giảm xuống nếu nhịp tim quá nhanh. Cũng tương tự vậy đối với huyệt Tam âm giao, với cùng một cách tác động huyệt có thể điều chỉnh những rối loạn có vẻ như hoàn toàn đối nghịch nhau như bế kinh, rong kinh, đau bụng kinh, băng huyết. Chính vì hiệu quả và phạm vi tác dụng rộng của huyệt nên người xưa đã chọn Tam âm giao là một trong 6 Tổng huyệt được sử dụng rộng rãi nhất trong châm cứu.

Lục Tổng huyệt và các khu vực điều chỉnh liên hệ đã được tổng hợp thành bài vè: “Đổ phúc Tam lý lưu, Yêu bối Uỷ trung cầu, Đầu hạn tầm Liệt khuyết, Diện khẩu Hợp cốc thâu, Tâm hung thủ Nội quan, Tiểu phúc Tam âm mưu”.

CÁCH TÁC ĐỘNG VÀO HUYỆT

Bấm huyệt: Ngồi dưới đất hoặc trên nệm, trên ván, hai tay gấp lại vừa tầm để 2 bàn tay có thể nắm lấy cổ chân một cách thoải mái. Mỗi bàn tay tác động vào huyệt Tam âm giao cùng bên. Xác định huyệt Tam âm giao ở khoảng 6,5 cm trên mắt cá chân trong, phía sau xương chày. Dùng 4 ngón tay còn lại bao lấy phía ngoài cổ chân sao cho đầu ngón cái chạm đúng vào huyệt. Dùng lực vừa phải day thành vòng tròn trên huyệt liên tục từ 7 đến 10 phút. Nửa chừng cảm thấy mỏi tay có thể ngừng day, nhưng tay vẫn tiếp tục đặt trên huyệt, sau đó day tiếp cho đến khi đủ thời gian đã định. Mỗi ngày có thể thực hành một lần.

Ngồi kiết già: Kiết già còn được gọi là thế hoa sen, là một thế ngồi quen thuộc của các đạo sĩ Yoga, thiền sư, các nhà sư Phật giáo khi tĩnh tọa. Điểm đặc biệt của thế ngồi này là xương mác ở một chân đã tạo nên một sức ép lên đúng vị trí huyệt Tam âm giao của chân còn lại. Do đó, trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt Tam âm giao sẽ liên tục bị kích thích mà không cần động tác day bấm vào huyệt. Những thí nghiệm khoa học về Yoga đã cho biết, chỉ cần ngồi vào tư thế kiết già, sóng não của một người đang căng thẳng có nhịp Beta khoảng 20 chu kỳ/giây sẽ giảm xuống nhịp Alpha chỉ còn 8 chu kỳ/giây (là sóng não bình thường của người đang minh mẫn, tâm lý ổn định). Điều này có nghĩa tự thân tư thế kiết già đã có công năng làm êm dịu thần kinh mà chưa cần đến những cố gắng khác của việc ngồi thiền. Kết quả trên đã củng cố thêm cho lý luận về sơ tiết Can khí để để ổn định thần kinh của huyệt Tam âm giao. Ngoài ra, nếu ngồi kiết già để tĩnh tọa sẽ càng có thêm hiệu quả dưỡng âm theo quy luật “Thần tĩnh tất âm sinh”. Theo khoa học, khi ta căng thẳng, trương lực cơ bắp cũng gia tăng. Hai yếu tố này đã làm cơ thể tiêu phí nhiều năng lượng một cách vô ích. Đổi lại, nếu ta thư giãn hoặc nhập tĩnh thì điều ngược lại sẽ diễn ra: đó là tích lũy năng lượng. Đây chính là quá trình sinh âm và dưỡng âm, hoặc nói cách khác là “Thần tĩnh tất âm sinh”.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Theo y thư cổ, cấm châm hoặc bấm mạnh vào huyệt Tam âm giao đối với các sản phụ. Với phụ nữ, huyệt Tam âm giao có liên quan chặt chẽ với vùng tử cung. Do đó những kích thích mạnh vào huyệt có thể ảnh hưởng đến thai kỳ, nhất là đối với những trường hợp có tiền sử sẩy thai hoặc sinh non.

Lương y Võ Hàtamamgiao

Ho sau cảm cúm

Thời tiết lại bắt đầu chuyển mùa. Nhiệt độ đỡ nóng oi bức hơn. Tuy nhiên, chính nhiệt độ thấp lại thích hợp cho vi khuẩn và virút phát triển mạnh. Bệnh cảm cúm lại vào mùa,  ảnh hưởng đến sức khỏe của mỗi người và tiếp tục lan nhanh cho những người đề kháng thấp.

Đầu tiên gíó lạnh làm bạn cảm thấy ơn ớn, ách xì, chảy nước mũi.

Ách xì, chảy nước mũi tiết ra dịch nhầy là phản ứng tự nhiên của cơ thể khi có vật lạ xâm nhập. Dịch nhầy không màu là màng chắn vật lạ li ti vào đường hô hấp. Nếu cơ thể bạn đề kháng tốt thì không việc gì phải lo lắng. Kẻ xâm nhập muốn tấn công cơ thể thì hệ bạch cầu của bạn sẽ đáp trả bằng mãnh liệt gây nâng cao nhiệt độ cơ thể để diệt vi trùng, vi rút. Xác chết chúng bám vào chất nhầy có màu vàng hoặc xanh (đàm vàng/xanh). Vì thế Ho lúc này phản xạ sinh lý tốt bảo vệ cơ thể, tống những chất có hại tại đường hô hấp ra khỏi cơ thể.

Vậy chúng ta sẽ xữ lý thế nào với ho?

Hãy chọn phương pháp làm long đàm hỗ trợ cho việc tống đàm (chất thải) ra dễ dàng hơn. Bạn hãy kiên nhẫn vì quá trình ho đào thải đàm có thể kéo dài đến 7-10 ngày. Đôi lúc vào những ngày sau cùng những đàm nằm sâu bên trong cần tống ra ngòai phải trải qua cơn ho kéo dài rất mệt. Và có thể tổn thương phế quản. Vì thế bạn cần uống một số những thảo dược có kháng sinh hạn chế những tổn thương có thể xãy ra trong quá trình điều trị.

1. Thảo dược dễ tìm giúp hỗ trợ thời gian Ho do cảm lạnh:

  1. Trà gừng cốt chanh mật ong: Trà có chất cà-phê-in giúp hưng phấn; gừng cay làm ấm phổi, chống dị ứng, chống co thắt cơ trơn, chống viêm; cốt chanh vắt có cả tinh dầu vỏ chanh giúp giảm sưng gân cơ ống cổ và long đàm. Mật ong ngọt hòa hoãn giúp nhẹ cơn ho. Uống nóng.
  2. Trà sả kết hợp với hạt tiêu, mật ong, quế, nước cốt chanh, lá bạc hà: uống nóng giúp thông mũi, thông họng, dễ hít thở, giúp dịu cơn ho.
  3. Quả quất: cắt đôi quả quất bỏ hột hấp chín với đường phèn hay mật ong. Ngậm nuốt từ từ ăn trong 4 ngày là hết, dùng tốt cho trường hợp ho mãn tính.
  4. Tía Tô: 3-10g sắc uống chống dị ứng, ho nhiều, long đờm.
  5. Củ cải trắng, tiêu 5 hạt, vỏ quýt 1 miếng, gừng tươi 3 lát. Củ cải trắng gọt vỏ, cắt lát, sắc chung với các thành phần. Uống nóng trị ho lạnh chãy dãi.
  6. Trứng gà, đường phèn trị ho khan: dùng 50g đường phèn nấu cho tan, để nguội, đập 2 quả trứng gà vào đánh tan hấp chín cho vào vài giọt gừng ăn.
  7. Củ gừng nướng mật ong cắt cơn ho: nướng củ gừng trong giấy bạc xắt nhuyễn bỏ vào ít mật ong hay đường đỏ ăn cắt cơn ho, tiêu đàm.

2. Day bấm huyệt tự điều trị ho:

Dùng miếng gừng xoa hoặc cứu bằng điếu ngãi vào các huyệt theo hình minh họa:

  • Hợp cốc  + Ngoại quan
  • Liệt khuyết
  • Phế du

phe du

Hoặc day vùng phản xạ bàn tay theo hình minh họa:

  • Khu Hô hấp – Ngực
  • Khu phản xạ Đầu, Cổ
  • Phế điểm, Thận điểm.
  • Thái Uyên

khái suyen diem

Trên đây là ho do cảm lạnh (phong hàn).

Chúng tôi sẽ viết tiếp bài ho do cảm nắng (phong nhiệt) kỳ sau.

(Trích từ tài liệu Bấm huyết Thảo Dược trị bệnh thông thường của BS LY Hòang Duy Tân)

Chúc bạn thành công trong việc tự chăm sóc sức khỏe theo phương pháp không dùng thuốc.

Thiên Tâm.

Published in: on Tháng Mười Hai 4, 2013 at 4:02 sáng  Gửi bình luận  
Tags: , , , , , , ,